Đời thứ 1: ĐỖ AN THÂN
"Cụ Tổ đầu tiên là Đỗ An Thân. Ông vốn họ Đỗ, người thôn Mỹ Nhậm (có phải làng Nhợm, tức thôn Trinh Nga, xã Hoằng Trinh ? – Đỗ Văn Thức chú), vốn tính hào hùng, lòng đối xử với mọi người rất trung hậu, thờ cha mẹ rất có hiếu, đối với người trên rất kính trọng, giao hữu với bạn bè rất tín nghĩa. Đãi người lấy ơn. Người dân ở xa các lân ấp đều yêu quý (biết) tên tuổi Ông. Người dân trong thôn xóm khâm phục ý chí của Ông. Thấy nơi ở cũ đất hẹp, Ông đã có ý tìm đất mới. Một hôm, Ông thấy cách bên kia sông có một dải đất rộng chừng mươi mẫu (tức nay là địa giới thuộc huyện Thuần Lộc – không biết ai chú câu này), phía bên phải là núi Cô Nhi (núi Cửi), bức thành vân tựa con hổ trắng, phía bên trái là dải Hoa thị hình giống rồng xanh (thanh long), trước mặt có dòng sông chảy, thật là một dải đất đẹp (đạt được mọi sự). Ông bèn chuyển sang đó ở, cày bừa thừa thóc, dệt cửi dư của, chưa đầy hai năm trở nên giàu to. Người trong thôn cũng có dăm sáu nhà cùng đến đó ở, đặt riêng là Giáp Quang Châu, đến nay đường qua lại tích cũ vẫn còn. Hiềm một nỗi bọn gian phu hám lợi, bọn bạo khách tham tiền, bọn cướp vượt tường, lũ trộm đào vách, việc tuần phòng canh giữ sức lực rất khó khăn. Ông hằng lấy việc đó làm suy nghĩ. Hồi đó ở thôn Trung Hậu, xã Sơn Trang, có ông Giám sinh họ Trần, tự Đạo Nghệ, tài trí tám đấu, học lực năm xe (ý nói học rộng tài cao – không biết ai chú câu này), lại tinh thông địa lý (phong thủy) với Ông là bạn tốt. Một hôm nhàn rỗi, Giám sinh họ Trần đến thăm, Ông bèn đem việc trên ra hỏi. Giám sinh họ Trần liền nói với Ông rằng: “Tôi đi qua vùng ta, thấy có một khu đất làm nơi ở rất tốt, rất là đẹp đẽ, sang sủa. Nếu ông đến đó ở, tôi cũng đem cả nhà cùng đi theo”. Ông hỏi lại: “Ở nơi nào vậy ?”. Giám sinh họ Trần nói:
“Hang Rồng ở phương Thìn / Ổ Gà ở phương Dậu / Núi Tùng làm bến án / Nước ngược đến trước nhà / Bốn mặt là đất bằng / Nổi dậy một gò cao / Ai mà đến đó ở / Về sau rất phát đạt”
(Long sào Thìn củng / Kê ổ Dậu tàng / Tùng sơn tác án / Nghịch thủy đáo đường / Tứ bang bình địa / Đột khởi cao cương / Thùy năng cư thử / Quyết hậu khắc xương)
Hiềm nỗi nơi đất ấy mỗi bước chân đi ra là đất của người khác. Nay xem thời thế thì khó lấy lời nói mà tranh được vậy”. Ông nói: “Ở đâu tất phải chọn láng giềng đó. Huống chi thiên thời địa lợi hai mục này đều đạt được. Ý tôi đã quyết !”. Nói rồi đến dựng nhà ở (nay tức là xã nhà – không biết ai chú câu này). Từ đó nhân đinh hằng năm phát triển, tài sản gia đình hàng năm thăng tiến. Lúc bấy giờ có người làng Cổ điển là ông Lê Ngòi sinh trưởng trong gia đình giàu có, chơi với Ông rất than. Thấy Ông đến đó ở cũng cùng theo sang ở. Cùng rước thần hiệu “Cao Sơn Đại Vương”. Ba họ (Đỗ, Trần, Lê ? – không biết ai chú câu này) cùng chung gốc cành (Đối với họ Lê ở thôn ta thì Ông là Miên Duệ vậy – không biết ai chú câu này). Cùng đến ngụ cư có tới trên hai mươi hộ. Đặt tên là phường Nhuệ Hà. Người trong phường ca tụng công đức của Ông nên có thơ rằng: “Khẳng giao ốc oải khả đầu đài / Mỹ Nhậm hòe gia biệt thác khôi / Châu giáp tự thiên phù cựu tỷ / Hà phường hữu địa đãi tân khai / Minh sư pháp trị Sơn Trang đáo / Thắng hữu sơ phùng Cổ điển lai / Mộc bản thủy nguyên tong thử thủy / Gia hương vạn đại mạch trường bồi”. Dịch nghĩa là: “Quyết chí dựng làng từ ban đầu / Nhà đẹp ở thôn Mỹ Nhậm đã dời đi / Giáp Quang châu lại tự thay đất cũ / Phường Hà có đất đãi người mới đến / Có bậc thày giỏi từ Sơn Trang tới / Có bạn hiền từ Cổ điển lại / Gốc cây, nguồn nước đã theo từ trước / Gia hương muôn đời được bồi đắp vững bền”. Ông sinh được sáu trai, hai gái."
Đời thứ 2: ĐỖ AN GIA
Cụ Tổ đời thứ 2 là AN GIA, con trưởng Cụ AN THÂN, tính tình hiền hòa, rất siêng năng và tiết kiệm, nối được nghiệp cha, đạo nhà rất vững vàng. Ông sinh được ba trai, ba gái.
Đời thứ 3: ĐỖ AN ẤP
"Cụ Tổ Đời thứ 3 là AN ẤP, con trưởng cụ AN GIA, tính tình quả quyết, mưu lược sâu sắc. Khi trưởng thành, Ông được tổng nhà bầu làm Tổng Cán. Một hôm, Ông bày tiệc rượu mời những bậc hào kiệt trong phường đến bàn việc. Cùng các vị ấy nói rằng: “Phàm có người tất phải có đất. Có dân cư mà không có địa phận (phần đất) sao ? Tổ tông ta xưa đến đây có cả người cùng của mà phải chịu lụy người theo lối mày tao, thù này thật đáng uất hận. Đến ngày nay, gặp thời thế có thể làm được, nếu ta không biết tùy liệu trước thì còn đợi đến khi nào ?”. Cả phường cùng đồng thanh hưởng ứng, nói rằng: “Ông mà đem hết sức ra, tốn kém bao nhiêu phường tax in chịu. Có của nào thì có việc nấy ứng dụng, từ xưa đã nói như vậy !”. Bèn ghi chép ký nhận tiền của phường giao và làm bản tấu lên Triều đình yêu cầu chia xã dân, chia binh, chia hộ. Triều đình chuẩn tấu, hứa đổi làm xã Tây Hà (sau vì kiêng húy Vương phủ Tây đô vương nên mới đổi ra là Trinh Hà – không biết ai chú câu này). Thời đó chính là Triều Lê Trung Hưng, năm Đinh Mão, niên hiệu Hoàng đế Anh Tông thứ 10 (tức năm 1567), phủ nhà Mạc là Sùng Khang năm thứ 2. Từ sau khi được Triều đình chuẩn tấu, Ông lấy đó làm cơ mưu thắng thế, đều tự mình xoay xở, lấy cái thực kích cái hư (lấy cái nọ kích cái kia) dễ như chẻ tre. Bèn trước hết tranh ranh giới phía Tây phần đất làng Trung Hậu. Ngày đưa đơn lên ty trên, sai quan đến khám và đo đạc. Hai bên đã cùng nhau thỏa thuận. Ông bèn đem trâu rượu đến tạ thôn Trung Hậu, trở lại bang giao với nhau, lấy nghĩa lâu bền. Sau lại tranh địa giới phía Bắc thuộc địa phận làng Cơ nhi (Làng Cửi – Trung Hòa). Lại lấy làng Trung Hậu ra làm chứng. Tiếp sau lại tranh địa giới phía Đông thuộc làng Cổ Điển (làng Đẽn) và tranh địa giới phía Tây thuộc địa phận làng Nghĩa Trang. Lại lấy các thôn trước làm chứng. Một tay làm nên, không có một cái gì có thể ngăn cản được. Ông bèn thiết lễ rất hậu đến để tạ các thôn trên, lập lại mối hòa hảo. Đến nay tục lệ vẫn còn. Sự tích lập nên cương giới này đều do tài lực của Ông. Làng ta mới có thơ ca tụng Ông như sau: “Tu hoán cư mùng cá diện bì / Danh liên tấu bản quốc triều tri / Tây Hà khởi xã hiệu sơ cải / Nam Việt tôn thần danh vị di / Lũy thứ chiến tranh song thư định / Nhất phiên đơn mục tứ lân tùy / Phong cương tự thử liên khai phá / Bất thị hào hùng hạt khắc ti”. Dịch nghĩa là: “Thay đổi, sửa sang bộ mặt (làng) bên ngoài / Làm bản tấu lên Triều đình biết / Xã mới Tây Hà bước đầu là tên / Tôn thần Nam Việt lưu danh vị về sau / Tranh chiếm bờ cõi do một tay quyết định / Chỉ một lá đơn mà bốn bên đều phải theo / Bờ cõi (làng) từ đó được mở mang ra / Đây há chẳng phải là người anh hung để người trong hạt phải nhớ ơn sao ?”.
Ông sinh hạ được bốn trai, hai gái."
Đời thứ 4: ĐỖ THẾ ĐẠT
"Cụ Tổ Đời thứ 4 là THẾ ĐẠT, thường gọi là Ông Lộ, con trưởng cụ AN ẤP, tiếp làm Tổng Cán, mọi người đều khâm phục. Ông sinh được ba trai, bốn gái. Con trai trưởng là THẾ LONG, con trai út là THẾ TOÀN (Cụ THẾ TOÀN là Trưởng Chi cuối của Đời thứ 5). THẾ TOÀN sinh THẾ LẠI (Cụ THẾ LẠI là Trưởng Chi cuối của Đời thứ 6).
Ông THẾ LẠI thời kỳ đang đi học, mỗi buổi tối trở về đến xứ Bãi Nghị, thấy thần linh xuất hiện, sang như bó đuốc, to như một vòng lớn. Ông bèn thầm khấn rằng: “Tôi con nhà họ Đỗ, còn đang bé nhỏ đi học, Thần nên ủng hộ tôi, việc học hành được thành công lớn, nên bậc tài tử, làm nổi tiếng gia thanh, muôn đời sau hương hỏa hương hỏa được lâu dài”. Khấn xong đuốc tắt không thấy nữa. Từ đó trở đi văn bài của Ông ngày một tiến lớn, thi trúng hưu sinh, sau lại trúng tứ trường. Đầu tiên được nhận chức huấn đạo, sau lại nhận chức Tư châu Châu Bố chánh. Ông đến nơi đất cũ, làm bản tế lễ, tôn lên là “An Cảnh Đại vương”. Về sau mọi người lại gia hiệu là “Thượng đô An Cảnh Đại vương”.
Lại có thơ ca tụng như sau: “Du học tằng sơ tịch phản từng / Hồng quang phảng phát khí anh linh / Mặc phù giang bút kỳ họa phát / Tưởng ủng hà đồng dịch diệp vinh / Thế lịch hòe vi tư trúng tuyển / Hoạn kinh du tái lai tài danh / Cực nan thù đáp thần tiễn chúc / Nhất triệu hưng yên vạn nổi hinh”. Dịch nghĩa là: “Đi học mỗi buổi chiều khi quay trở về / Thấy ánh hồng quang chiếu sáng hiện lên / Mặc nhiên từ đó ngọn bút tài hoa đã phát đạt / Liền đó người học tốt, lá cành đổi tươi xanh / Trải qua thi trường hòe đã trúng tuyển / Đến khi thi Kinh lại nổi danh tiếng / Rất khó đền đáp ánh đuốc sáng của thần / Một đoạn khói hương muôn đời sau còn thơm”.
Tục lệ bốn mùa, cùng với đền thờ tối linh của bản xã lễ cúng. THẾ LẠI sinh ra THẾ XỨNG (Chi cuối của Đời thứ 7). THẾ XỨNG sinh ra rất là khôi ngô, thông minh, sang suốt. Thời đó hiệu là Thần Đồng. Đây thật là ứng điềm lành đuốc sang. Sau thi Tứ trường. Người đời có thơ ca tụng rằng: “Khí chung hà tú xuất văn chương / Thảo chiếm hòe vi tính tự hương / Thế hiệu Thần đồng chân cá thị / Bất tam nãi phụ phá thiên hoang”. Dịch nghĩa là: “Khí tốt của núi song đã nổi văn chương / Sớm chiếm được bảng vàng khi thi Hương / Hiệu Thần đồng đây thật là đúng lắm / Không thẹn với cha ông đã mở đường. Ông THẾ XỨNG thọ 99 tuổi, không có con truyền về sau."
Đời thứ 5: ĐỖ THẾ LONG
Cụ Tổ Đời thứ 5 là THẾ LONG, con trưởng Cụ THẾ ĐẠT, thường gọi là Ông Tiên. Cụ THẾ LONG sinh được 2 trai, 1 gái, trai trưởng là THẾ THÁI, trai thứ là THẾ LẪM.
ĐỖ THẾ TOÀN
"Cụ THẾ TOÀN là con trai út của Cụ THẾ ĐẠT. THẾ TOÀN sinh THẾ LẠI (Cụ THẾ LẠI là Trưởng Chi cuối của Đời thứ 6).
Ông THẾ LẠI thời kỳ đang đi học, mỗi buổi tối trở về đến xứ Bãi Nghị, thấy thần linh xuất hiện, sang như bó đuốc, to như một vòng lớn. Ông bèn thầm khấn rằng: “Tôi con nhà họ Đỗ, còn đang bé nhỏ đi học, Thần nên ủng hộ tôi, việc học hành được thành công lớn, nên bậc tài tử, làm nổi tiếng gia thanh, muôn đời sau hương hỏa được lâu dài”. Khấn xong đuốc tắt không thấy nữa. Từ đó trở đi văn bài của Ông ngày một tiến lớn, thi trúng hưu sinh, sau lại trúng tứ trường. Đầu tiên được nhận chức huấn đạo, sau lại nhận chức Tư châu Châu Bố chánh. Ông đến nơi đất cũ, làm bản tế lễ, tôn lên là “An Cảnh Đại vương”. Về sau mọi người lại gia hiệu là “Thượng đô An Cảnh Đại vương”.
Lại có thơ ca tụng như sau: “Du học tằng sơ tịch phản từng / Hồng quang phảng phát khí anh linh / Mặc phù giang bút kỳ họa phát / Tưởng ủng hà đồng dịch diệp vinh / Thế lịch hòe vi tư trúng tuyển / Hoạn kinh du tái lai tài danh / Cực nan thù đáp thần tiễn chúc / Nhất triệu hưng yên vạn nổi hinh”. Dịch nghĩa là: “Đi học mỗi buổi chiều khi quay trở về / Thấy ánh hồng quang chiếu sáng hiện lên / Mặc nhiên từ đó ngọn bút tài hoa đã phát đạt / Liền đó người học tốt, lá cành đổi tươi xanh / Trải qua thi trường hòe đã trúng tuyển / Đến khi thi Kinh lại nổi danh tiếng / Rất khó đền đáp ánh đuốc sáng của thần / Một đoạn khói hương muôn đời sau còn thơm”.
Tục lệ bốn mùa, cùng với đền thờ tối linh của bản xã lễ cúng. THẾ LẠI sinh ra THẾ XỨNG (Chi cuối của Đời thứ 7). THẾ XỨNG sinh ra rất là khôi ngô, thông minh, sang suốt. Thời đó hiệu là Thần Đồng. Đây thật là ứng điềm lành đuốc sang. Sau thi Tứ trường. Người đời có thơ ca tụng rằng: “Khí chung hà tú xuất văn chương / Thảo chiếm hòe vi tính tự hương / Thế hiệu Thần đồng chân cá thị / Bất tam nãi phụ phá thiên hoang”. Dịch nghĩa là: “Khí tốt của núi song đã nổi văn chương / Sớm chiếm được bảng vàng khi thi Hương / Hiệu Thần đồng đây thật là đúng lắm / Không thẹn với cha ông đã mở đường. Ông THẾ XỨNG thọ 99 tuổi, không có con truyền về sau."
Đời thứ 6: ĐỖ THẾ THÁI
Cụ Tổ Đời thứ 6 là THẾ THÁI, tục gọi là Ông Sách, con trưởng Cụ THẾ LONG. Cụ THẾ THÁI sinh được CAO DANH (Chi trưởng Đời thứ 7). CAO DANH sinh CAO ĐỆ (Chi trưởng Đời thứ 8). CAO ĐỆ sinh được 3 trai, con trưởng là CAO TUYỂN (tục gọi là Ông Mưu). Đó chính là Nhà Họ Đỗ, ngàn vạn Đời thuộc Chi trưởng có riêng gia phả nơi đây (không rõ ý đoạn này – Đỗ Văn Thức chú).
Đời thứ 6: ĐỖ THẾ LẪM
Khước thuyết đồng truyền lục đại xuất chi: Theo truyền thuyết, Chi thứ, con thứ Đời thứ 6 là THẾ LẪM, gia đình giàu có dư thừa, trong phường khó ai bì được. Thấy vị thần cũ trong làng (Thành Hoàng ?) danh là “Ông nhà nuôi Đại vương”, Ông bèn hỏi các cụ lão thành trong làng rằng: “Thần là vị có đức lớn mới phải, nay danh không được chính, chắc hẳn là nói không được thuận, khá để cho dân thờ tự được chăng ?”. Ông thấy trong làng ta có một nơi trong một đám cây rậm rạp có một gian nhà tranh có thời hương thơm phảng phất, mùi rượu thơm nồng, có thời có người qua lại, lễ vật khi nhiều khi ít. Ông mới hỏi các Cụ hương lão rằng: “Như vậy là nguyên do thế nào ?”. Có một cụ đáp rằng: “Thời còn nhỏ nghe các bậc cha anh nói đó là Hoàng Đế Triệu Việt Vương thay Tiền Lý Nam Đế làm vua nước Việt ta, giữ gìn bờ cõi, thân chinh đi đánh Chiêm Thành, đến chỗ đó lập mạc phủ (đóng quân). An yến quân lính, đến khi trở về, dân nhớ công ơn nên lập miếu thờ đó. Từ xưa tới nay gọi là Bản Phủ, mà nay dấu tích còn lại”. Ông THẾ LẪM vui mừng nói: “Sự tích còn ở sử sách nước nhà. Công đức mà dân còn thờ tự, khói hương hằng năm, không còn nghi ngại gì nữa !”. Ông bèn đến xứ Sơn Nam, huyện Đại An, xã Lục Bộ, xin được Duệ hiệu rước về, phế bỏ thần cũ, tôn vị chính thần, bốn mùa lễ bái, đông đúc khách lễ, từ đó rất linh ứng. Triều dân đèn hương, được phong là “Thượng đẳng tối linh tôn từ”. Tưởng đến Thần và Người đều hòa hiếu đều là công đức của Ông vậy. Người lúc bấy giờ ca tụng cái khí tiết đó mới có thơ rằng: “Cương phương ninh hạ quỷ thần pha / Dương liễu duy tỳ chính giữ tà / Khẳng hứa dan từ mê xích tử / Trực tu mạc phủ tráng Hoàng gia / Anh uy bất cụ long truyền nỗ / Thắng tích như tân mã củng xa / Hạp cảnh ngưỡng bằng linh đức chấn / Trinh Hà thiên cổ đới sơn hà”. Dịch nghĩa là: “Lời nói cương trực không ngại quỷ thần trách / Cây dương liễu đã nêu rõ chính và tà / Quyết thay đổi lời nhân dân mê con đỏ / Thẳng thắn xây dựng mạc phủ làm tráng lệ Hoàng gia / Uy linh rạng rỡ không thẹn với tích nỏ truyền gia / Dấu vết đẹp đẽ như mới có xe ngựa qua / Cảnh sắc phù hợp mọi người chiêm ngưỡng / Trinh Hà ngàn xưa vẫn giữ vững với non sông”. Ông THẾ LẪM sinh được 2 trai, 3 gái.
Đời thứ 7: ĐỖ THẾ TỰ
Cụ Tổ Đời thứ 7 là THẾ TỰ, thường gọi là Ông Chủng. Ông thọ 78 tuổi, hằng năm ngày mùng 5 tháng 6 kỵ. Ông sinh được 2 trai, 4 gái.
Đời thứ 8: ĐỖ THẾ THỊNH
Truyền Đời thứ 8, con trưởng là THẾ LÝ, con thứ là THẾ THỊNH. Ông THẾ LÝ sinh toàn con gái, do đó Ông THẾ THỊNH (húy là Hoan) thay ông THẾ LÝ để thờ cúng trong nhà thờ Họ. Ông thọ 77 tuổi, tích rất thích rượu. Người đời gọi Ông là “Ông Phật rượu”. Hằng năm ngày mùng 7 tháng 5 kỵ. Ông sinh được 3 trai, 3 gái.
Đời thứ 9: ĐỖ THẾ QUÁN
Cụ Tổ Đời thứ 9 là THẾ QUÁN, thường gọi là Ông Bân), con trưởng cụ THẾ THỊNH, làm quan chức Câu Kê (Thống kê), thọ 77 tuổi. Hằng năm ngày mùng 1 tháng 7 kỵ. Ông lấy vợ làng My Sơn, con nhà họ Nguyễn, sinh được 2 trai, 1 gái.
Đời thứ 10: ĐỖ KHẮC KHOAN
"Cụ Tổ Đời thứ 10 là KHẮC KHOAN, húy là Chiêu, con trưởng cụ THẾ QUÁN. Con thứ cụ THẾ QUÁN là KHẮC DONG, húy là Huy, làm Huyện thừa huyện Trung Thuận. Riêng Ông KHẮC KHOAN tính tình nhân hòa, tư chất minh mẫn, văn chương rất là thuần hoạt, nói năng rất ung dung; nho y lý số không cái gì là không biết; thơ, rượu, đàn, đánh cờ không gì là không thích. Lúc trẻ Ông đi học thi hỏng Tứ trường, bèn viết bài biểu có câu: “Qua ba bậc vũ môn đành chịu làm con cá cũ / Khó bề vượt qua chin tầng mây, đành làm con chim phượng hoàng nhỏ”. Ông thầy mới nói rằng: “Văn của Ông tuy là do khích động mà làm, nhưng văn thật là ngưng trệ” (ý không bay bổng được – không biết ai chú câu này).
Do đó, Ông bèn bỏ mà đi học làm thuốc, tiếng tăm lừng lẫy vang xa. Lũy thứ cung phụng, cùng truyền đi chữa bệnh. Thời đó ở Tỉnh ta có quan tả thừa Trần Đình Tấn, bạn than với Ông, có tặng Ông đôi câu đối như sau: “Khương quế chi tính, đáo lão dũ lặt / Tùng bá chi tử, kinh hàn bất điêu”. Dịch nghĩa là: “Gừng quế có tính càng già càng cay / Tùng bách có tính qua rét mà không chịu héo hon”.
Ông đối với mọi người thì: với người già rất tôn kính, với người trẻ rất thương mến. Những người nghèo đói thì chẩn cấp cho. Ông ở trong lâm ấp thì: việc gì lôi thôi thì Ông dẹp đi, việc gì cần thiết thì Ông làm ngay. Mọi người rất cảm ơn cái đức ấy của Ông. Ông sinh được 5 trai, 2 gái. Trai trưởng là Khắc Thực (Thiệt), trai thứ hai là Khắc Bảo, trai thứ ba là Khắc Di, trai thứ tư là Khắc Tân, trai thứ năm là Thời Nghi. Con gái đầu là Thị Tuấn (thường gọi là Bà Đồ), con gái thứ hai là Thị … (tên thường gọi là Bà Công Tập), lấy chồng ở thôn Bản Định. Ông làm ra 7 tòa nhà gỗ lim chia cho 7 người con trai và gái."
Đời thứ 11:
Trưởng chi 1: ĐỖ KHẮC THỰC
Trưởng chi 2: ĐỖ KHẮC BẢO
Trưởng chi 3: ĐỖ KHẮC DI
Trưởng chi 4: ĐỖ KHẮC TÂN
Trưởng chi 5: ĐỖ THỜI NGHI
